Trà đạo Trung Hoa: nguồn gốc, 6 nhóm trà và 10 danh trà nổi tiếng

Nghệ nhân trình diễn pha trà tại Tea Masters Cup Vietnam 2025

Trả lời nhanh.

  • Văn hoá trà Trung Hoa định hình từ đời Đường, với Trà Kinh của Lục Vũ (khoảng 760–780), sách chuyên khảo đầu tiên về trà.
  • Cách uống đổi qua từng thời: Đường nấu trà bánh, Tống đánh trà bột, Minh chuyển sang hãm trà lá sau chiếu năm 1391.
  • Trà Trung Hoa được chia thành 6 nhóm: lục trà, bạch trà, hoàng trà, thanh trà (ô long), hồng trà, hắc trà. Cách chia này được đưa vào tiêu chuẩn ISO 20715 năm 2023.
  • Danh sách “10 danh trà” phổ biến nhất có từ bình chọn năm 1959, đứng đầu là Tây Hồ Long Tỉnh.

Bài này dành cho người đọc văn hoá trà và cho đối tác Trung Quốc muốn hiểu trà Việt qua lăng kính quen thuộc của họ. Chúng tôi là Hợp tác xã Tâm Trà Việt, làm trà ở Thái Nguyên. Chúng tôi không làm trà Trung Hoa. Nhưng khi tiếp đối tác, cách nhanh nhất để giải thích một gói trà Thái Nguyên là đặt nó vào bảng 6 nhóm trà mà người Trung Hoa đã quen.

Khu thi và khán giả tại Tea Masters Cup Vietnam 2025

Trà trong văn hoá Trung Hoa qua các thời

Người Trung Hoa hay dùng chữ “trà nghệ” hoặc “trà đạo”. Người Việt quen gọi chung là trà đạo Trung Hoa, để phân biệt với trà đạo Nhật Bản. Điểm cốt lõi không nằm ở một nghi thức cố định, mà ở cách chọn trà, chọn nước, pha và mời.

Cách uống trà thay đổi rõ qua ba triều đại. Bảng dưới tóm tắt những thay đổi được nhiều tài liệu thống nhất.

Thời kỳ Dạng trà chính Cách uống Dấu mốc
Đường (618–907) Trà bánh ép Nướng, tán, nấu trong nồi, thêm chút muối Lục Vũ viết Trà Kinh
Tống (960–1279) Trà bánh tán bột Rót nước sôi vào bột trà, dùng chổi đánh bọt (“điểm trà”) Giới văn nhân thi “đấu trà”; cách uống này về sau ảnh hưởng tới trà Nhật
Minh (1368–1644) Trà lá rời Hãm lá trà trong ấm hoặc bát có nắp Năm 1391, Minh Thái Tổ ra chiếu bỏ lệ cống trà bánh, chuyển sang trà lá
Thanh đến nay Trà lá, đủ các nhóm Ấm nhỏ, hãm ngắn, nhiều nước; công phu trà ở Phúc Kiến, Quảng Đông Ô long, hồng trà phát triển mạnh

Chiếu năm 1391 thường bị kể sai là “Minh Thái Tổ phát minh cách pha trà”. Thực ra ông chỉ bỏ lệ cống loại trà bánh tốn công, vì thấy làm khổ dân. Việc hãm trà lá đã có từ trước, chiếu này khiến nó thành cách uống chính.

Lục Vũ và Trà Kinh

Lục Vũ sống vào đời Đường, được hậu thế tôn là “Trà Thánh”. Trà Kinh của ông gồm ba quyển, mười chương. Sách đi từ gốc cây chè, dụng cụ hái và làm trà, cách chế biến, bộ đồ trà, cách nấu, cách uống, đến các vùng sản trà thời đó.

Câu mở chương “Lục chi ẩm” thường được trích nhất: “Trà chi vi ẩm, phát hồ Thần Nông thị”, nghĩa là trà dùng làm đồ uống bắt đầu từ Thần Nông. Đây là cách người đời Đường truy nguồn, nên hiểu là truyền thuyết. Giá trị thật của Trà Kinh nằm ở chỗ nó biến việc uống trà thành một môn có quy tắc, có thể dạy và học.

Chương “Bát chi xuất” liệt kê vùng trà và xếp hạng chất lượng từng vùng. Nói theo ngôn ngữ ngày nay, đó là một bản đồ nguồn gốc. Đây cũng là điều người mua trà hôm nay vẫn hỏi đầu tiên: trà này từ vườn nào. Bối cảnh rộng hơn về nguồn gốc cây chè có trong bài nguồn gốc cây chè.

6 nhóm trà theo mức oxy hoá

Năm 1979, giáo sư Chen Chuan (Trần Chuyên), một nhà khoa học trà Trung Quốc, đề xuất chia trà thành sáu nhóm dựa trên công nghệ chế biến và mức oxy hoá. Cách chia này được dùng rộng rãi và năm 2023 được ghi vào tiêu chuẩn quốc tế ISO 20715 về phân loại trà.

Tất cả sáu nhóm đều làm từ cùng một loài cây chè. Khác nhau ở cách xử lý lá sau khi hái. Cột cuối cho biết Hợp tác xã Tâm Trà Việt đang làm nhóm nào, để đối tác dễ đối chiếu.

Nhóm Mức oxy hoá Công đoạn đặc trưng Ví dụ Trung Hoa Dòng tương ứng của TRAVINA
Lục trà (trà xanh) Gần như không Diệt men sớm bằng nhiệt, vò, sấy Tây Hồ Long Tỉnh, Bích Loa Xuân Trà Bắc Truyền Thống, Móc Câu Đặc Biệt, Nõn Hảo Hạng, trà đinh
Bạch trà Nhẹ Làm héo, sấy, gần như không vò Bạch Hào Ngân Châm, Bạch Mẫu Đơn Bạch Trà Mẫu Đơn
Hoàng trà Nhẹ Như lục trà, thêm bước ủ vàng (“muộn hoàng”) Quân Sơn Ngân Châm Chưa làm
Thanh trà (ô long) Một phần Làm héo, lắc lá, oxy hoá một phần rồi diệt men Thiết Quan Âm, Vũ Di Nham Trà Ô Long Đông Tam Đảo
Hồng trà Gần như hoàn toàn Làm héo, vò, oxy hoá hết, sấy Kỳ Môn Hồng Trà Hồng Trà Núi Cốc
Hắc trà Có lên men vi sinh sau chế biến Ủ đống, thường ép bánh, để lâu Phổ Nhĩ chín, trà An Hoá Chưa làm

Lưu ý nhỏ về tên gọi: người Trung Hoa gọi “hồng trà” cho loại mà phương Tây gọi “black tea”. Còn “hắc trà” là nhóm riêng. Khi làm hợp đồng với đối tác Trung Quốc, anh chị nên ghi cả tên nhóm theo ISO để tránh nhầm. Trà ướp hoa như trà nhài, trà sen được ISO xếp là sản phẩm tái chế biến từ sáu nhóm trên.

10 danh trà nổi tiếng của Trung Quốc

Danh sách “Thập đại danh trà” có nhiều phiên bản. Phiên bản được dẫn nhiều nhất là kết quả bình chọn năm 1959. Bảng dưới theo danh sách đó.

Danh trà Tỉnh Nhóm
Tây Hồ Long Tỉnh Chiết Giang Lục trà
Động Đình Bích Loa Xuân Giang Tô Lục trà
Hoàng Sơn Mao Phong An Huy Lục trà
Lư Sơn Vân Vụ Giang Tây Lục trà
Lục An Qua Phiến An Huy Lục trà
Quân Sơn Ngân Châm Hồ Nam Hoàng trà
Tín Dương Mao Tiêm Hà Nam Lục trà
Vũ Di Nham Trà Phúc Kiến Thanh trà (ô long)
An Khê Thiết Quan Âm Phúc Kiến Thanh trà (ô long)
Kỳ Môn Hồng Trà An Huy Hồng trà

Các phiên bản sau thường thay vào Phổ Nhĩ Vân Nam, Bạch Hào Ngân Châm hoặc Đô Quân Mao Tiêm. Bảy trên mười danh trà năm 1959 là lục trà. Điều này cho thấy trà xanh vẫn là trục chính của văn hoá trà Trung Hoa, giống như ở Việt Nam.

Nhiều danh trà gắn với truyền thuyết. Tương truyền vua Càn Long từng hái trà ở Long Tỉnh, hay đặt lại tên Bích Loa Xuân. Những chuyện này hay để kể, nhưng không nên đưa vào mô tả sản phẩm như sự thật. Riêng núi Vũ Di, quê của Vũ Di Nham Trà, được UNESCO công nhận là Di sản thế giới hỗn hợp văn hoá và thiên nhiên năm 1999.

Công phu trà: cách pha và phép lịch sự khi uống

Công phu trà là cách pha bằng ấm nhỏ, chén nhỏ, hãm ngắn và pha nhiều nước. Kiểu tiêu biểu là công phu trà Triều Châu (Quảng Đông), được công nhận di sản văn hoá phi vật thể quốc gia Trung Quốc năm 2008. Năm 2022, nó nằm trong hồ sơ “Kỹ thuật chế biến trà truyền thống và tập quán xã hội liên quan ở Trung Quốc” được UNESCO ghi danh.

  • Làm nóng dụng cụ. Tráng ấm, chén bằng nước sôi trước khi cho trà.
  • Tráng trà. Nước đầu rót bỏ, giúp lá mở và rửa bụi.
  • Hãm ngắn, rót kiệt. Mỗi nước chỉ vài chục giây, rót hết ra để lá không ngâm.
  • Rót đều cho mọi chén. Rót vòng qua các chén để nước đậm nhạt như nhau.

Về phép lịch sự, người Trung Hoa thường rót trà không đầy chén, mời người lớn tuổi trước. Khi được rót trà, người nhận gõ nhẹ ngón tay lên bàn thay lời cảm ơn, một thói quen phổ biến ở Quảng Đông và Phúc Kiến. Nguồn gốc tục gõ ngón tay thường được kể gắn với chuyện vua Càn Long vi hành, nhưng đó chỉ là tương truyền.

Trà Việt và trà Trung Hoa: gần mà khác

Hai nền văn hoá trà dùng chung một loài cây và nhiều cách pha giống nhau. Nhưng khi tiếp đối tác Trung Quốc, chúng tôi thấy khác biệt nằm ở những điểm dưới đây.

Tiêu chí Trà Việt (vùng Thái Nguyên) Trà Trung Hoa
Nhóm trà chủ lực Lục trà sao; trà ướp hoa tươi Đủ sáu nhóm, mỗi vùng một thế mạnh
Cách gọi hạng Theo phần búp hái: tấm, móc câu, nõn, đinh Theo tên vùng, giống và mùa hái
Trà ướp hương Sen, nhài, bưởi, ướp bằng hoa tươi Nhài phổ biến nhất
Cách uống thường ngày Ấm nhỏ, chén tống, chén quân; trà đá ở quán vỉa hè Bát có nắp, ấm nhỏ công phu, cốc thuỷ tinh cho lục trà
Nghi thức Ít quy tắc cố định, trọng lời mời và người cùng uống Có nhiều phép tắc được hệ thống hoá hơn

Nghệ thuật ướp hoa tươi là điểm người Trung Hoa thường tò mò nhất, được kể trong bài lịch sử trà sen Tây Hồ. Còn lịch sử vùng chè Thái Nguyên có trong bài lịch sử chè Thái Nguyên.

Từ câu chuyện đến vườn chè hôm nay

Nếu Trà Kinh bắt đầu bằng câu hỏi trà đến từ đâu, thì hồ sơ lô trà hôm nay trả lời câu đó bằng giấy tờ. Trà TRAVINA trồng trên 40,5 ha của 90 hộ xã viên tại Đại Từ và La Bằng, Thái Nguyên, canh tác theo VietGAP (DVCL-VG-TT-24-19-68). Hợp tác xã giữ nghề trà gia truyền từ năm 1960, qua ba thế hệ. Với thị trường Trung Quốc, hợp tác xã hiện làm qua nhà nhập khẩu và chưa đăng ký GACC đứng tên hợp tác xã. Đối tác nói tiếng Trung có thể xem trang tiếng Trung của TRAVINA, và trang giới thiệu hợp tác xã.

Câu hỏi thường gặp

Trà đạo Trung Hoa bắt nguồn từ khi nào?

Văn hoá trà định hình rõ từ đời Đường, khi Lục Vũ viết Trà Kinh khoảng năm 760–780. Các câu chuyện về Thần Nông là truyền thuyết.

6 nhóm trà gồm những loại nào?

Lục trà, bạch trà, hoàng trà, thanh trà (ô long), hồng trà và hắc trà, chia theo cách chế biến và mức oxy hoá.

10 danh trà Trung Quốc gồm những loại nào?

Theo bình chọn năm 1959: Tây Hồ Long Tỉnh, Bích Loa Xuân, Hoàng Sơn Mao Phong, Lư Sơn Vân Vụ, Lục An Qua Phiến, Quân Sơn Ngân Châm, Tín Dương Mao Tiêm, Vũ Di Nham Trà, An Khê Thiết Quan Âm, Kỳ Môn Hồng Trà.

Trà Thái Nguyên thuộc nhóm nào trong 6 nhóm trà?

Phần lớn là lục trà. Hợp tác xã còn làm bạch trà, ô long và hồng trà từ nguyên liệu Thái Nguyên.

Công phu trà khác pha trà Việt thế nào?

Cả hai đều dùng ấm nhỏ, hãm ngắn. Công phu trà có nhiều phép tắc hơn và thường dùng cho ô long; người Việt pha trà xanh đơn giản hơn.

Làm việc với hợp tác xã

Anh chị là doanh nghiệp thương mại hoặc đối tác cần mẫu trà theo từng nhóm? Chúng tôi gửi bảng giá theo kg trong 24 giờ làm việc, kèm 3–5 mẫu lục trà, ô long, hồng trà để đối chiếu. Xem trang nhập sỉ · Hotline bán buôn 0368.151.678 · Zalo 0855.318.678 · Email htxtamtraviet@gmail.com.

Người chịu trách nhiệm nội dung

Đỗ Hữu Thuận

Nhà sáng lập, Chủ tịch HTX Tâm Trà Việt

Người con của vùng chè Đại Từ, nơi nghề trà nối đời trong gia đình từ năm 1960. Anh sáng lập thương hiệu TRAVINA và đứng tên hai nhãn hiệu THUANTRA số 465451 và TRAVINA số 542996. Trên website, anh chịu trách nhiệm nội dung về văn hoá trà, định hướng thương hiệu, hồ sơ chứng nhận và giải thưởng.

Cập nhật 15/09/2026 · Xem đội ngũ HTX Tâm Trà Việt →

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *