Nguồn gốc của trà – Xuôi theo dòng lịch sử

Trà Việt – thức uống được coi là quốc hồn quốc túy của dân tộc, hương vị tinh tế này đã trải dài suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Vậy trà Việt có từ bao giờ? Vốn là một trong những thức uống lâu đời, trà đã trở thành một nét văn hóa, một biểu trưng của tâm hồn Việt từ lâu. Chẳng những không mai một theo thời gian, trà Việt ngày càng khẳng định được vị thế của mình, và trở thành một phần không thể thiếu trong dòng chảy của lịch sử.

1. Truyền thuyết dân gian về nguồn gốc của trà.

Truyền thuyết phổ biến và nổi tiếng nhất về nguồn gốc của trà xuất hiện vào khoảng 3.000 năm TCN vào triều nhà Thương vào 1.600-1046 TCN), tại đất nước Trung Hoa.
 
than nong nguon goc cua tra
 
Theo thần thoại, Thần Nông đứng thứ ba trong các vị vua thần thánh được gọi là Tam Hoàng.Thần Nông giỏi về nông nghiệp và y dược. Ông có khả năng nếm được các loại độc với cái bụng thủy tinh trong suốt của mình. Vào một hôm, Thần Nông vô tình nếm được một loại lá có màu xanh, hương thơm thanh mát, hậu vị ngọt nhẹ, và loại lá này có thể thanh lọc được 72 loại độc mà trước đây ông từng nếm thử.
 
Cũng có thuyết nói rằng, một hôm nọ, khi Thần Nông đang đun nước thì có vài chiếc lá xanh rơi vào chum nước vủa ông. Sau khi uống thử, ông phát hiện ra thứ lá này mang đến một hương vị thơm mát, lại giải khát rấ nhanh, và cơ thể ông giống như có thêm một năng lực diệu kì. Và ngay lập tức, ông đã xếp trà vào danh sách các loại thảo dược của mình.
Ban đầu, ông chỉ đặt tên loại cây này là “Tra”, có nghĩa là kiểm tra, vì ông sử dụng nó để kiểm tra tính độc của các loại cỏ khác nhau. Sau đó, chữ “Tra” được viết lại thành “Trà”. Đây là nguồn gốc của từ “Trà” trong lịch sử trà Trung Hoa.

2. Ngược dòng quá khứ tìm hiểu vết tích của trà.

2.1 Từ thời vua Hùng dựng nước và giữ nước.

vua hung vuong nguon goc cua tra
Ắt hẳn chúng ta ai cũng nghe qua truyền thuyết Bánh chưng – bánh dày, và thật đáng ngạc nhiên khi biết rằng trà đã xuất hiện từ khi vua Hùng dựng nước và giữ nước. Một trong những dấu vết về trà Việt xuất hiện trong truyền thuyết phải kể đến là câu chuyện về Trương Chi – Mỵ Nương, một câu chuyện lãng mạn của cổ sử Việt. Câu chuyện diễn ra trong thời đại của các vua Hùng (2879-257 TCN).
 
Một chứng cứ khác là các địa danh đã được đề cập trong câu chuyện về Hùng Duệ Vương. Một người phụ nữ quý phi của vua Hùng đã trở về làng Văn Luông (nay là Văn Phú), Phú Thọ để dạy người dân trồng chè và trồng bông. Để ghi nhớ công nghiệp đó của bà, những vùng đất trồng chè và trồng bông đã tạo ra các xóm làng như xóm Bãi Chè và xóm Bông, mà vẫn tồn tại đến ngày nay.
lang che phu tho nguon goc cua tra

2.2. Theo nghiên cứu khoa học.

Vào thế kỷ 18, năm 1753, lần đầu tiên trà được đưa vào nghiên cứu khoa học nhờ Carl Von Linnaeus – nhà thực vật học Thụy Điển đã sưu tầm các tiêu bản từ giống trà Trung Quốc. Sau đó, suốt thế kỷ 19, 20 và phát hiện thêm nguồn trà cổ thụ hoang dã tại Assam ở Ấn Độ, tại Tây Tạng, tại miền Bắc Miến Điện và miền Bắc Việt Nam.
 
4 thuyet nguon goc cua tra
 
Giữa thế kỉ XX, năm 1951, một nhà khoa học Trung Quốc là Đào Thừa Trân đã tổng hợp các nghiên cứu trước đó thành 04 thuyết lớn cho nguồn gốc tổ tiên của trà thế giới: thuyết Trung Hoa, thuyết Ấn Độ, thuyết nhị nguyên (phía Đông cao nguyên Tây Tạng và phía Đông Nam Trung Quốc), và thuyết chiết trung (khu vực Đông Nam Á gồm Vân Nam của Trung Quốc, miền Bắc Việt Nam, Lào và Miến Điện).
 
Đến năm 1976, Djemukhatze, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, đã phân tích thành phần từ các cây trà hoang dã ở ba nước: vùng trà Tứ Xuyên, Vân Nam của Trung Quốc, vùng trà Ấn Độ, và vùng trà cổ ở Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An,…của Việt Nam, đã đưa ra kết luận “Cây trà ở Việt Nam có trước các loại trà ở những nơi khác”.
 
vung che co Nghia Lo viet nam
 
Sau đó, những khảo sát vẫn được tiếp tục tiến hành để đi tìm vùng trà đầu tiên. Cho đến nay, một điều có thể chắc chắn là Việt Nam nằm trong vùng trà nguyên sản của thế giới và có giống trà bản địa đặc trưng. Và những bằng chứng khảo cổ học sớm từ Văn hóa Hòa Bình, có niên đại hơn 13.000 năm trước đã cho thấy điều đó.
 
Vào năm 1960, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy hạt trà có niên đại 13.200 năm tuổi ở di tích hang Con Moong, xã Thành Yên, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Những hiện vật được tìm thấy thuộc Văn hóa Phùng Nguyên (3000-1330 TCN) của Lạc Việt là những nồi gồm có chân kê để nấu trà.
 
Dấu tích của cây trà và lá trà hóa thạch cũng được phát hiện ở Phú Thọ, đất tổ Hùng Vương. Ngay trong tư liệu thành văn đầu tiên của Khổng Tử vào thế kỷ thứ 4 TCN cũng viết về tập quán uống trà của dân Bách Việt
Một trong những loại trà Việt Nam được lịch sử ghi lại là “trà thơm” do Đinh Liễn cống cho nhà Tống vào thế kỷ thứ 10. Do đó, trà ướp hương Việt Nam xem như đã có dòng chảy ít nhất hơn 1000 năm.
 
tra uong huong nguon goc cua tra
 
Những thế kỷ trôi qua, trà ở Việt Nam đã phát triển dòng trà Thiền thời Lý với họa tiết sen phổ biến trên các trà cụ (nhưng chưa có trà sen), rồi trà ướp hoa lan vào thế kỷ 14 trong tác phẩm của Trần Nguyên Đán, trà Tước Thiệt được viết trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi thế kỷ 15, trà sen xuất hiện vào thế kỷ 16 được biết qua bài thơ chữ Nôm Tịnh cư niên thể phú của ẩn sĩ Nguyễn Hãng, trà Bạch Hào vào thế kỷ 18 trong Thượng kinh ký sự của Hải Thượng Lãn Ông, trà Ô Long Việt thế kỷ 19, trà Sơn kim cúc chữa bệnh mắt cho Thái hậu Từ Dũ,…
 
Một số loại trà và phong cách trà được ghi nhận trong lịch sử nhưng dường như đã thất truyền như Mạc trà vào thế kỷ 16, trà Lược của công chúa Mai Hoa ở Thanh Hóa, triết lý Trà Nô của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, Tây Sơn Trà ở Phú Yên, trà Cam Khổ chuyên để tiến chúa Nguyễn…
 
van hoa tra viet nguon goc cua tra
 
Nhiều trà tộc Việt cũng ra đời và có danh tiếng như dòng họ Nguyễn Đình buôn bán trà Mạn Hảo, hiệu trà Chính Thái có từ thời Lê bán trà Shan và các trà khác, ông tổ trà Tân Cương là Vũ Văn Hiệt (1883-1945) khởi dựng dòng trà Tân Cương tại Thái Nguyên, sau này có trà Đỗ Hữu, Quốc Thái, Bạch Tượng,…
 
Từ thế kỷ 19, trà Huế xuất hiện, đồng thời trà Phú Hội ở trấn Biên Hòa ra đời, trở thành danh trà đất phương Nam.
Có thể thấy, trà Việt Nam có một bề dày lịch sử, cũng là một nét đẹp văn hóa, không đơn thuần chỉ còn là một thức uống hay vị thuốc, mà còn là một món ăn tinh thần không thể thiếu với mỗi người dân đất Việt

3. Về trà Việt thượng phẩm.

Xuyên suốt dòng chảy lịch sử, trà Việt tạo nên cho mình một màu sắc riêng, không đơn thuần chỉ còn là một vị thuốc hay thứ xa xỉ phẩm chỉ dành cho vua chúa, trà đã trở thành thức uống quen thuộc với mỗi người dân Việt. Trà Việt tạo nên một văn hóa thưởng trà giản dị, và đậm chất “Việt”

3.1. Trà mộc.

Từ thuở xa xưa, trà mộc đã xuất hiện dưới dạng “mộc mạc” nhất. Quả như cái tên của nó, trà mộc đươc tuyển chọn từ những lá trà tươi ngon nhất, thường là từ những cây trà hảo hạng đến từ Tân Cương, hay dòng trà Shan tuyết, được hãm tươi, hoặc được phơi khô sơ chế bằng những bước đơn giản nhất mà không có thêm bất cứ phụ gia nào.
 
tra moc nguon goc cua tra
 
Thời xưa, người sành trà Hà Nội thường chỉ ưa chuộng loại trà này, bởi không tẩm ướp bất kì hương hoa nào mà giữ trọn hương vị của trà. Thậm chí, Cao Bá Quát còn nêu lên quan điểm chỉ uống trà thuần túy với mùi trà, không sử dụng trà ướp hương hoa qua bài “Kệ uống trà”:
“Người ta không kể bề ngoài
Bề ngoài diêm dúa sơ sài bên trong
Tựa như trà ướp hoa đong
Vị trà đã mất hương lòng mất theo”

3.2. Trà ướp hương.

tra uop sen tuoi
 
Khác với dòng trà mộc giản dị bao nhiêu, thì trà ướp hương lại là cả một “tác phẩm” do các nghệ nhân kì công chế tác. Bằng đôi bàn tay tài hoa của mình kèm theo cả kĩ thuật làm trà ướp hương, đã cho ra nhiều loại trà nổi tiếng, như trà lài với hương thơm tinh tế, trong trẻo và hòa quyện như mùi thiếu nữ đương độ xuân thì; hay trà sen phủ Tây Hồ – hương thơm ngọt ngào của hoa sen tự nhiên, một chút chát ở tiền vị nhưng hậu vị lại ngọt một cách đậm đà.

4. Trà Việt – Những dấu son huy hoàng.

Trà Việt với nguồn gốc thủy tổ và sự phát triển cả ngàn năm, đã đạt được những thành tựu nhất định, không chỉ ở trong nước, mà còn được xuất khẩu đi thị trường nước ngoài.
 
che viet nam xuat khau
 
Đầu tiên phải kể đến trà Việt đã được vua Gia Long cấp giấy xuất khẩu đi Pháp lần đầu vào năm 1817 và 1819. Vào năm 1899, trà Việt Nam đã được bán tại Paris, Pháp, với tổng lượng xuất khẩu tới 131.391 tấn. Và đến năm 1930, trà Việt đã có mặt tại Mỹ. Vào năm 1935, trà Tân Cương của Việt Nam đã đạt giải nhất Hội chợ đấu xảo Hà Nội, sau đó được xuất khẩu đi Ấn Độ.
 
Năm 1988, Hiệp hội Chè Việt Nam (VITAS) được thành lập. Đến năm 1996, Tổng Công ty Chè Việt Nam ra đời. Tính đến năm 2020, nước ta có 34 tỉnh, thành phố trồng chè với tổng diện tích 123 nghìn ha, năng suất bình quân đạt gần 95 tạ/ha, sản lượng đạt 1,02 triệu tấn chè búp tươi. Việt Nam hiện đứng thứ 5 trên thế giới về xuất khẩu chè (TQ, Ấn Độ, Kenya, Sri Lanka, Việt Nam), đứng thứ 7 về sản xuất chè toàn cầu.
 
Lượng chè sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam luôn đứng trong top 5 của thế giới, trung bình gần 200 ngàn tấn mỗi năm. Trong đó, sản lượng xuất khẩu chiếm đến 70 – 80%, còn lại dành cho việc tiêu thụ trong nước. Chè Việt Nam đã có mặt tại 120 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có các thị trường chính như: Đài Loan, Pakistan, Afganistan, Trung Quốc, Nga, Mỹ…
 
hong tra hop ha giang ocop 5 sao
 
Năm 2021, 2 sản phẩm Trà xanh hộp và Hồng trà hộp được chứng nhận sản phẩm OCOP 5 sao đầu tiên tại tỉnh Hà Giang. Với sự phát triển của trà Việt đi dọc theo bề dày lịch sử, khác với trà đạo Nhật Bản hướng theo chữ “Đạo”, hay trà Trung Hoa với quy cách bảo quản và gia công tinh tế, trà Việt lại mang theo sự bình dị, mộc mạc, gần gũi ngay chính trong “chất” của trà. Có thể thấy, trà Việt Nam đã phát triển song song với văn hóa của người Việt trong quá trình lịch sử của nó. Trân trọng những giá trị tinh túy của tự nhiên, trà Việt Nam đã trở thành một “món ăn” không thể thiếu trên bàn thờ gia tiên hay để tiếp đãi khách quý trong những dịp quan trọng.

5. Travina – Tinh hoa trà Việt.

tra cao cap teavina nguon goc cua tra
 
Travina là một trong những thương hiệu có tiếng về trà tại Việt Nam. Với kinh nghiệm được lưu truyền và gìn giữ qua 3 thế hệ, Travina chuyên sản xuất và cung cấp các loại trà chất lượng cao, đa dạng về hương vị và xuất xứ bằng cách đặt nền tảng quan trọng vào việc lựa chọn nguồn nguyên liệu tươi ngon và chất lượng, từ vùng trồng trà uy tín là Tân Cương Thái Nguyên. Bên cạnh đó, quy trình chế biến trà của Travina tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt, nhằm đảm bảo rằng sản phẩm mang đến hương vị tuyệt hảo và giá trị dinh dưỡng cao.
 
Với sự đa dạng về loại trà, Travina cung cấp cho khách hàng những sản phẩm phong phú như trà xanh, trà đen, bạch trà,… Mỗi loại trà đều mang trong mình hương thơm đặc trưng và vị tuyệt vời, tạo nên trải nghiệm thưởng trà tinh tế và đáng nhớ.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *