Mùa chè 2026 ở HTX Tâm Trà Việt, từ Đại hội Hội Nông dân đến xưởng cơ sở 2

Mùa chè 2026 ở HTX Tâm Trà Việt, từ Đại hội Hội Nông dân đến xưởng cơ sở 2

Bài này kể lại những ngày xưởng cơ sở 2 mở cửa đón khách, và vì sao điều đó liên quan trực tiếp tới đơn hàng của các đại lý.

Tháng 6 vừa rồi, chè của HTX Tâm Trà Việt được rót mời đại biểu cả nước tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Tháng 7, một đoàn bà con và cán bộ về tận xưởng cơ sở 2 xem chè từ lúc còn tươi đến lúc ra lò. Bài này ghi lại hai chuyến đó, và nhân tiện nói rõ luôn một chuyện mà nhiều đại lý hay hỏi: xưởng nào là của hợp tác xã, xưởng nào là của đơn vị liên kết.

Pha trà ở Trung tâm Hội nghị Quốc gia

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026–2031, họp trong hai ngày 7 và 8/6/2026 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, với gần 600 đại biểu chính thức. Bên lề đại hội, tỉnh Thái Nguyên dựng một Không gian Văn hóa Trà Thái Nguyên, và HTX Tâm Trà Việt là một trong các hợp tác xã được phân công pha trà phục vụ tại đó.

HTX Tâm Trà Việt pha trà phục vụ đại biểu tại Đại hội Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX – xưởng cơ sở 2
Bàn trà của HTX Tâm Trà Việt trong Không gian Văn hóa Trà Thái Nguyên, Đại hội Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX, tháng 6/2026.

Nói cho rõ ràng: đây là gian chung của tỉnh, không phải gian riêng của một thương hiệu nào. Nhiều hợp tác xã Thái Nguyên cùng bày sản phẩm ở đó, mỗi đơn vị một góc bàn. Chúng tôi đứng cạnh những cái tên mà bà con làm chè trong tỉnh đều biết, và điều đó bình thường — trà Thái Nguyên đi ra ngoài tỉnh thì đi cả tỉnh chứ không đi một mình.

Gian trưng bày trà Thái Nguyên tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam
Gian trưng bày chung của các hợp tác xã chè Thái Nguyên tại đại hội. HTX Tâm Trà Việt là một trong các đơn vị tham gia.
Bánh trà cổ ép trong Không gian Văn hóa Trà Thái Nguyên tại Hà Nội
Bánh trà cổ ép trưng bày trong không gian trà. Chè Thái Nguyên không chỉ có chè rời.
Đỗ Hữu Thuận, người sáng lập TRAVINA, tại Đại hội Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX
Đỗ Hữu Thuận tại đại hội. Thẻ đeo ghi “phục vụ” — nhiệm vụ hai ngày là đứng bên ấm nước.

Đoàn về thăm xưởng cơ sở 2

Cơ sở 2 của hợp tác xã nằm ở Đồng Khuân, xã La Bằng — đây là cơ sở chúng tôi mua lại và chuyển giao xong, nay đứng tên HTX Tâm Trà Việt. Khách về xem xưởng thì chúng tôi không dựng cảnh: chè hôm đó thu về bao nhiêu, bà con làm bấy nhiêu, đoàn đi theo đúng đường đi của búp chè.

Dàn làm héo chè búp tươi tại cơ sở 2 của HTX Tâm Trà Việt ở Đồng Khuân, La Bằng
Chè búp tươi trải trên dàn làm héo, chặng đầu tiên sau khi thu về từ nương.

Chặng thứ hai là chọn. Chè một tôm hai lá khác chè một tôm, cuống dài ngắn khác nhau ra hạng khác nhau — hạng của sản phẩm được quyết ngay ở cái bàn này chứ không phải lúc đóng gói. Đây cũng là chỗ bà con xã viên góp tay nhiều nhất.

Bà con xã viên kiểm tra chè búp tươi trước khi đưa vào chế biến
Kiểm tra búp bằng tay. Người làm chè lâu năm nhìn và bóp là biết lứa chè hôm nay ra hạng gì.
Xã viên HTX Tâm Trà Việt nhặt chè tại cơ sở 2
Bà con nhặt chè cùng đoàn khách. Không ai diễn, việc vẫn chạy như mọi ngày.
Máy sao chè trong khu vực sản xuất chế biến cơ sở 2 của TRAVINA
Khu vực sản xuất chế biến cơ sở 2, với dàn máy sao chè.

Chuyến nào cũng kết thúc ở bàn trà văn phòng. Uống thử đúng thứ chè vừa nhìn thấy làm, và nói chuyện giá, chuyện hạng, chuyện năm nay mưa sớm hay muộn.

Pha trà mời khách tại văn phòng HTX Tâm Trà Việt
Pha trà mời đoàn tại văn phòng hợp tác xã.

Vì sao hợp tác xã phải liên kết thêm xưởng

Đây là phần chúng tôi muốn nói thẳng, vì đại lý và khách mua sỉ có quyền biết.

HTX Tâm Trà Việt sở hữu hai cơ sở: trụ sở và xưởng thứ nhất ở Gò Lớn, Đại Từ; cơ sở thứ hai với xưởng chế biến và vùng VietGAP ở Đồng Khuân, La Bằng. Vùng nguyên liệu theo quyết định nhãn hiệu tập thể là 40,5 ha, sản lượng 120 tấn chè khô mỗi năm.

Nhưng vào chính vụ, chè tươi về dồn trong vài ngày. Muốn diệt men kịp trong vòng mấy tiếng đồng hồ kể từ lúc hái — điều quyết định chè có giữ được hương hay không — thì công suất của hai xưởng nhà chưa đủ. Vì thế hợp tác xã liên kết với một số hợp tác xã khác trong tỉnh, trong đó có HTX Nông sản Phú Đạt, dùng xưởng và kho lạnh của họ theo thỏa thuận liên kết.

HTX Nông sản Phú Đạt, đơn vị liên kết của HTX Tâm Trà Việt
Cơ sở của HTX Nông sản Phú Đạt, đơn vị liên kết. Biển hiệu ghi cả hai tên.
Biển hiệu HTX Nông sản Phú Đạt cùng bản đồ vùng chè Thái Nguyên
Biển hiệu đơn vị liên kết, kèm bản đồ vùng chè và mã truy xuất.

Ảnh dưới đây là xưởng của đơn vị liên kết, không phải xưởng của hợp tác xã. Chúng tôi ghi rõ như vậy để không ai hiểu nhầm về quy mô nhà xưởng mình sở hữu.

Nhà xưởng chế biến chè của đơn vị liên kết tại Thái Nguyên
Nhà xưởng chế biến của đơn vị liên kết, bố trí một chiều từ khâu nhận chè đến khâu đóng bao.
Máy diệt men chè tại xưởng của đơn vị liên kết
Máy diệt men. Nhiệt làm ngưng quá trình oxy hóa chỉ vài phút sau khi chè vào xưởng.
Chè vừa qua công đoạn diệt men, đang để nguội trước khi vò
Chè vừa ra khỏi máy diệt men, để nguội trước khi vò.
Tang sao chè xanh tại xưởng của đơn vị liên kết
Tang sao. Hình dáng cánh chè và độ khô cuối cùng được quyết ở đây.
Cân và đóng bao chè xanh tại xưởng của đơn vị liên kết
Cân và đóng bao sau khi sấy.
Kho chứa bao chè của đơn vị liên kết
Kho chứa bao chè. Một lô hàng lớn thường gom từ nhiều ngày hái.

Kho lạnh — thứ ít ai chụp ảnh nhưng quyết định hương chè

Chè khô để ở nhiệt độ thường thì sau vài tháng hương nhạt dần, nước pha xỉn màu. Kho bảo quản lạnh giữ nhiệt độ ổn định, nhờ đó chè giao tháng 10 vẫn còn hương của lứa tháng 4. Với đại lý bán quanh năm, đây là khác biệt thật, không phải chuyện quảng cáo.

Kho bảo quản lạnh chè thành phẩm tại đơn vị liên kết ở Thái Nguyên
Kho bảo quản lạnh tại đơn vị liên kết.
Đỗ Hữu Thuận trong kho lạnh của đơn vị liên kết, bên các lô chè đang bảo quản
Trong kho lạnh, bên các lô chè đang bảo quản chờ đóng gói theo đơn.

Vùng chè Thái Nguyên nhìn từ trên cao

Mấy tấm dưới đây chụp cảnh chè Thái Nguyên nói chung — đồi chè, lễ hội hái chè, xóm làng sống bằng cây chè — chứ không phải nương của riêng hợp tác xã. Để bà con và khách phương xa hình dung cái nền mà chè của mình mọc lên từ đó.

Đồi chè Thái Nguyên với đường lên đỉnh, chụp từ flycam
Một quả đồi chè Thái Nguyên trồng theo đường đồng mức, có lối cắt lên tận đỉnh.
Lễ hội hái chè trên đồi chè Thái Nguyên
Lễ hội hái chè trên đồi. Ở đây cây chè vừa là cây trồng vừa là chuyện làng.
Vùng chè Thái Nguyên và xóm làng nhìn từ trên cao
Vùng chè và xóm làng. Các hộ sống ngay trong vùng nguyên liệu chứ không ở tách ra.
Luống chè Thái Nguyên dưới trời nhiều mây
Luống chè dưới trời nhiều mây. Nền trời như thế này là một phần lý do búp chè ở đây tích hương chậm mà sâu.
Hoa chè Camellia sinensis trên nương chè Thái Nguyên
Hoa chè. Chè xanh, hồng trà hay ô long đều từ một loài Camellia sinensis; khác nhau là ở cách xử lý búp sau khi hái.

Khách quốc tế đã về tận vườn

Vườn chè của hợp tác xã không phải chỗ dựng lên để chụp ảnh. Nhiều năm nay đã có khách nước ngoài — cả bên mua hàng lẫn khách tham quan — về tận Đại Từ và La Bằng: ngồi uống trà ở bàn trước, rồi ra đi giữa luống chè xem cây chè mọc thế nào. Hai tấm dưới đây đăng khi đã có sự đồng ý của khách.

Khách quốc tế thưởng trà cùng người sáng lập TRAVINA tại hợp tác xã
Uống trà cùng khách nước ngoài tại hợp tác xã. Vẫn những hạng trà ấy, pha đúng cách ấy, ngay tại nơi làm ra.
Đoàn khách quốc tế đi thăm vùng chè của HTX Tâm Trà Việt
Đi trên đường mòn giữa nương chè. Phần lớn câu hỏi thật lòng đều được hỏi ở đoạn đường này.

Điều đại lý và bà con cần nhớ

  • Hợp tác xã sở hữu hai cơ sở: Gò Lớn (Đại Từ) và Đồng Khuân (La Bằng). Xưởng liên kết là của đơn vị khác, chúng tôi dùng theo thỏa thuận.
  • Vùng nguyên liệu 40,5 ha, sản lượng 120 tấn chè khô/năm theo quyết định cấp quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên”.
  • Chè thành phẩm được bảo quản lạnh trước khi đóng gói theo đơn.
  • Giấy tờ pháp lý và chứng nhận đều công khai kèm ảnh chụp bản gốc.
Hộp quà trà TRAVINA trên bàn làm việc với đối tác
Hộp quà trà TRAVINA trên bàn làm việc với đối tác.

Xem đầy đủ giấy tờ tại bài Hồ sơ pháp lý và chứng nhận của HTX Tâm Trà Việt. Thông tin về hợp tác xã có ở trang Giới thiệu. Anh chị quan tâm làm đại lý xem chính sách phân phối hoặc gọi trực tiếp 0855.318.678.

Một búp chè đi qua xưởng cơ sở 2 như thế nào

Trên đồi, chè được hái tay. Người hái chọn búp theo hạng cần làm: búp một tôm hai, ba lá cho Trà Bắc, một tôm hai lá cho Trà Xanh Đặc Sản, búp non hơn cho các hạng cao. Hái tay chậm hơn hái máy nhưng giữ được búp nguyên, không lẫn lá già và cuộng.

Về tới xưởng, chè tươi được phân theo độ non trước khi đưa vào chế biến. Đây là khâu quyết định giá thành: làm 1kg Trà Bắc khô cần khoảng 5,5–6kg búp tươi, Trà Móc Câu cần 6–8kg, trà nõn 8–10kg, còn trà đinh cần trên 10kg. Búp càng non, lượng tươi càng lớn và công hái càng nhiều.

Sau khi sao và để nguội, trà được phân loại lần cuối, đóng gói chân không và chuyển vào kho. Đoàn về xưởng cơ sở 2 hôm ấy đã đi đúng con đường này, từ lúc chè còn tươi đến lúc ra lò.

Vì sao cùng một xưởng mà giá các hạng chênh nhau

Nhiều đại lý hỏi câu này khi xem bảng giá. Câu trả lời nằm ở tỷ lệ tươi ra khô và công hái: cùng một ngày công, người hái lấy được ít búp nõn hơn nhiều so với búp làm Trà Bắc. Trà đinh lại chỉ hái được 5–6 vụ mỗi năm. Giá chênh là phần công và nguyên liệu, không phải phần tên gọi.

Thêm xưởng, đại lý được gì

Với đại lý, xưởng cơ sở 2 có ý nghĩa thực tế ở hai điểm: hàng sẵn hơn vào mùa cao điểm, và thời gian xuất hàng giữ được như cam kết. Hiện đơn dưới 100kg xuất trong 24 giờ, đơn từ 100kg xuất trong 2 ngày, còn đơn từ 1 tấn trở lên được thỏa thuận lịch riêng.

Giao hàng thường trong 3–5 ngày kể từ ngày ký hợp đồng. Đơn sản xuất nhãn riêng cần thêm thời gian để duyệt mẫu in và làm bao bì, nên anh chị nên đặt sớm, đặc biệt là trước mùa quà Tết khi xưởng chạy nhiều đơn cùng lúc. Với hàng in nhãn riêng (OEM), hợp tác xã nhận đơn từ 20.000.000đ trở lên.

Đơn nhãn riêng và giấy xác nhận từng lô

Hợp tác xã nhận sản xuất OEM nhãn riêng. Mỗi lô có giấy xác nhận sản xuất, còn mẫu in phải được anh chị ký duyệt trước khi in. Hàng in riêng không đổi trả nếu không có lỗi sản xuất, nên khâu duyệt mẫu cần làm kỹ: kiểm tên sản phẩm, trọng lượng, thông tin liên hệ và màu in.

Đơn đặt riêng, in logo hay đơn doanh nghiệp cọc 20–30% (đơn có in logo cọc 50%). Hàng có sẵn thì không cọc, nhưng hợp tác xã cũng không áp dụng công nợ, nên anh chị cân đối dòng tiền trước khi chốt số lượng.

Anh chị muốn về thăm xưởng cơ sở 2

Nếu đại lý hay doanh nghiệp muốn về tận nơi xem chè được làm thế nào, hãy gọi trước qua số 0368.151.678 (gọi/Zalo) để hợp tác xã sắp xếp theo lịch mùa vụ. Chuyến thăm hữu ích khi anh chị chuẩn bị mở rộng kênh bán hoặc cần tận mắt thấy quy trình trước khi ký đơn lớn.

Vài gợi ý để chuyến về xưởng cơ sở 2 không phí thời gian:

  • Đi vào mùa hái để thấy cả khâu trên đồi, không chỉ khâu trong xưởng.
  • Mang theo danh sách mã hàng đang bán để hỏi đúng chỗ, đúng hạng.
  • Xin pha thử cùng lúc các hạng để so sánh màu nước và vị.
  • Ghi lại khâu phân loại búp; đây là chi tiết khách của anh chị dễ tin khi nghe kể lại.

Kho lạnh ở xưởng cơ sở 2 và chuyện giữ hương khi về tới cửa hàng

Trà ra lò được giữ trong điều kiện ổn định để hương không bay, nhưng khi về tới cửa hàng, việc giữ hương là của đại lý. Gói chân không 100g, 200g nên để nguyên đến khi bán, xếp nơi khô, mát, tránh nắng và tránh gần bếp, gia vị, xà phòng. Trà rất dễ hút mùi, nên kệ trà không đặt cạnh hàng có mùi mạnh.

Với gói 500g của Trà Bắc, Trà Xanh Đặc Sản hay Trà Tấm Đinh dùng cho quán, anh chị chia ra hộp kín nhỏ dùng dần, mỗi lần chỉ mở một hộp. Cách làm này giữ được phần lớn chất lượng mà xưởng cơ sở 2 đã làm ra.

Nhìn lô trà để biết xưởng làm kỹ hay không

Không phải đại lý nào cũng về được xưởng. Khi nhận hàng, anh chị vẫn kiểm tra được bằng mắt và bằng ấm trà. Cánh khô của trà tự nhiên ánh xanh đen, không có lớp phấn trắng. Nước trà không xanh ngắt: Trà Bắc nước vàng như mật ong, Trà Xanh Đặc Sản xanh ánh vàng, Trà Móc Câu xanh ánh kim, trà nõn nước trong và có hương cốm.

Hàng từ xưởng cơ sở 2 hay từ cơ sở khác đều nên được kiểm theo cùng một cách. Pha khoảng 10g trà cho một ấm và so với lô trước cùng mã. Nếu thấy khác lạ, anh chị chụp ảnh cánh trà và nước pha gửi qua Zalo để hợp tác xã kiểm tra lại lô. Cách làm này nhanh hơn nhiều so với chờ khách phản ánh.

Hai cơ sở, hai nhóm hạng trà

Hợp tác xã có hai cơ sở làm trà chính: Đại Từ làm Trà Bắc và Trà Xanh Đặc Sản, còn La Bằng làm Trà Móc Câu trở lên như Móc Câu Đặc Biệt, Nõn Cánh Hạc, Nõn Hảo Hạng và trà đinh. Cơ sở La Bằng được cấp chứng nhận ISO 22000:2018, và một phần vùng nguyên liệu đạt VietGAP. Khi khách hỏi, anh chị nói đúng phạm vi này, không gộp chung cho mọi mã.

Đại Từ và La Bằng đều thuộc vùng chè Thái Nguyên, nơi cây chè gắn với đời sống bà con từ lâu. Kể được nơi chốn cụ thể như vậy giúp khách nhớ món trà hơn là một cái tên chung.

Khi xưởng cơ sở 2 vào mùa cao điểm, hợp tác xã ưu tiên giữ lịch cho các đơn đã chốt. Vì vậy, đại lý báo trước kế hoạch nhập theo tháng sẽ giúp cả hai bên chủ động hơn, tránh cảnh đơn dồn cùng lúc vào cuối năm.

Bản đồ, mùa vụ và sản lượng vùng 40,5 ha canh tác theo quy trình VietGAP của hợp tác xã được gom ở trang trà La Bằng Đại Từ.

Câu hỏi thường gặp về xưởng cơ sở 2

Trà làm ở xưởng cơ sở 2 có khác trà trước đây không?

Cách hái và cách phân hạng giữ nguyên: hái tay, phân theo độ non của búp. Xưởng thêm giúp hợp tác xã chủ động sản lượng vào mùa cao điểm.

Đơn lớn vào mùa Tết có bị chậm không?

Đơn dưới 100kg xuất trong 24 giờ, đơn từ 100kg trong 2 ngày. Đơn đặt trước Tết cọc 20–30% để giữ lịch sản xuất, nên anh chị chốt càng sớm càng chủ động.

Mua sỉ có phải đặt cọc không?

Hàng có sẵn không cọc và không công nợ. Chỉ đơn đặt riêng, in logo, đơn doanh nghiệp hoặc đặt trước Tết mới cọc 20–30% (đơn có in logo cọc 50%).

Muốn thử trà trước khi nhập thì làm sao?

Anh chị đăng ký tại trang mẫu thử, hợp tác xã gửi các hạng để pha thử trước khi đặt đơn.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Thành viên TRAVINA GROUP