Các loại trà phổ biến hiện nay, cửa hàng mới mở nên nhập loại nào trước

Các loại trà phổ biến hiện nay, cửa hàng mới mở nên nhập loại nào trước

Mục lục bài viết

Các loại trà phổ biến hiện nay gom được thành bảy nhóm: trà xanh, trà ướp hương hoa, ô long, hồng trà, bạch trà, trà túi lọc và trà thảo mộc. Sáu nhóm đầu đều làm từ lá cây chè, khác nhau ở cách chế biến hoặc cách đóng gói. Nhóm cuối không có lá chè. Cửa hàng mới mở không cần đủ bảy nhóm ngay. Nên bắt đầu bằng 8 mã, chọn theo kênh bán: quán nước, quà biếu hay khách lẻ mua uống, rồi để số bán của hai ba tháng đầu quyết định nhập thêm gì.

  • Bảy nhóm trong các loại trà phổ biến: trà xanh, trà ướp hoa, ô long, hồng trà, bạch trà (cùng từ cây chè), trà túi lọc (một kiểu đóng gói) và trà thảo mộc (không phải cây chè).
  • Cửa hàng mới mở nhập 8 mã đầu từ các loại trà phổ biến, chọn theo kênh bán chứ không theo danh sách.
  • Ba bộ hàng ví dụ có giá niêm yết 6,9–7,1 triệu đồng; vốn thực trả khoảng 3,8–4,6 triệu đồng sau chiết khấu đại lý 35–45%.
  • Mã bán hết lô trong 4–5 tuần thì nhập lại đều; mã 8 tuần mới hết thì giữ lượng nhỏ.

Các loại trà phổ biến chia theo cách chế biến

Người bán dễ nhầm khi chia trà theo tên trên bao bì, vì cùng một búp chè có thể thành trà xanh, ô long hay hồng trà tùy cách làm. Chỗ phân biệt chính là búp chè có được để oxy hóa hay không, và để đến mức nào. Các mục dưới xếp các loại trà phổ biến theo cách làm, mỗi nhóm kèm người hay mua và xu hướng có nguồn.

Ai cần danh sách theo tên từng loại trà cụ thể, trong nước và nước ngoài, thì xem bài 18 loại trà ngon ở Việt Nam và thế giới. Ở đây chúng tôi đi theo nhóm của các loại trà phổ biến, vì người nhập hàng cần biết nhóm trước, tên sau.

Trà xanh, nhóm quen thuộc trong các loại trà phổ biến ở Việt Nam

Trà xanh được sao hoặc hấp ngay sau khi hái và làm héo nhẹ, nên búp giữ màu xanh, nước xanh vàng, hương cốm, chát trước ngọt sau. Ở Thái Nguyên, trà xanh chia hạng theo búp: trà bắc lá bánh tẻ cho quán, móc câu cho ấm hằng ngày, nõn cho khách quý. Người mua đông là quán trà đá, người lớn tuổi miền Bắc và khách làm quà Tết.

Theo báo cáo của FAO (1/2024), sản lượng trà xanh thế giới tăng bình quân 5,2% mỗi năm trong mười năm qua, nhanh hơn trà đen. Việt Nam làm bình quân 99.333 tấn trà xanh mỗi năm giai đoạn 2020–2022, nhiều hơn trà đen, nên trong các loại trà phổ biến ở quầy Việt, trà xanh vẫn là phần chính. Hợp tác xã làm từ Trà Bắc Truyền Thống đến các hạng nõn.

Trà ướp hương hoa: sen, nhài, bưởi

Trà ướp hoa là trà xanh khô ủ cùng hoa tươi, sàng bỏ hoa rồi sấy lại, làm nhiều lượt cho hương ngấm. Nền là trà xanh nên vẫn có caffeine. Trong các loại trà phổ biến ở quầy, đây là nhóm quán pha chế và khách mua quà cùng hỏi. Trà Hoa Nhài của hợp tác xã dùng nền nõn tôm, ướp hoa nhài thủ công nhiều lượt, hoa hái lúc nở rộ từ tháng 5 đến tháng 9. Trà ướp hương nên bán sớm hơn trà mộc vì hương hoa nhạt dần.

Ô long, nhóm được người trẻ hỏi nhiều

Ô long được làm héo, lắc cho mép lá dập, để oxy hóa một phần rồi mới sao và vò. Nước vàng sóng sánh, hương hoa, mật, ít chát. Theo Diễn đàn Doanh nghiệp (7/2025), một số chuỗi đồ uống đã “bình dân hóa” ô long, đón khẩu vị trà thơm nhẹ, hương trái cây của giới trẻ. Vì thế trong các loại trà phổ biến, ô long là nhóm khách dưới 30 tuổi hỏi nhiều ở quầy.

Hợp tác xã làm Ô Long Đông Tam Đảo từ giống Kim Tuyên trồng ở La Bằng, chế biến tại cơ sở La Bằng (cơ sở có ISO 22000:2018). Khách hỏi về ô long Trung Hoa thì có bài trà Thiết Quan Âm.

Hồng trà, thứ người Việt hay gọi là trà đen

Hồng trà được vò kỹ rồi để oxy hóa hoàn toàn, nước đỏ hổ phách, vị đậm. Trong các loại trà phổ biến, đây là nhóm hay bị gọi lẫn tên: tiếng Anh là “black tea” nên nhiều người gọi trà đen. FAO ghi Việt Nam làm khoảng 80.000 tấn trà đen năm 2022, xuất khẩu khoảng 60.000 tấn, tiêu thụ trong nước chỉ khoảng 3.000 tấn. Hồng trà trong nước đi chủ yếu qua quán trà sữa, trà trái cây. Hồng Trà Núi Cốc làm từ búp 1 tôm 2 lá ở La Bằng, hợp pha sữa.

Bạch trà, nhóm nhỏ trong các loại trà phổ biến

Bạch trà làm ít công đoạn: búp được làm héo tự nhiên rồi làm khô, không vò, không diệt men bằng nhiệt cao. Nước vàng nhạt, trong, gần như không chát. Bạch Trà Mẫu Đơn pha 4–5 g cho ấm 250 ml, nước 80–85°C, được 4–5 nước, hoặc ngâm lạnh 6–8 tiếng. Chúng tôi chưa thấy số liệu thị trường riêng đáng tin cho bạch trà ở Việt Nam, nên chỉ nói từ quầy: khách hỏi ít, phần lớn mua để biếu.

Trà túi lọc là kiểu đóng gói, không phải loại trà

Trà túi lọc hay bị xếp vào các loại trà phổ biến như một loại riêng, thật ra trong túi có thể là trà xanh, hồng trà hay thảo mộc. Ở Đức, theo Hiệp hội Trà và Trà thảo mộc Đức (báo cáo 2025, số liệu 2024), túi lọc chiếm 49% lượng trà xanh và trà đen bán ra, và 85% lượng trà thảo mộc, trà quả. Ở ta, túi lọc đi nhiều qua văn phòng, khách sạn. Hợp tác xã có Trà Tấm Đinh Túi Lọc, giá niêm yết xem trên trang sản phẩm.

Trà thảo mộc không làm từ cây chè

Atiso, hoa cúc, gừng, lá sen khô được gọi là “trà” theo thói quen, nhưng đứng ngoài các loại trà phổ biến làm từ cây chè Camellia sinensis, nên thường không có caffeine, trừ khi phối thêm trà. Cũng theo báo cáo của Đức nói trên, mỗi người dân ở đó uống 40,1 lít trà thảo mộc, trà quả năm 2024, nhiều hơn 27,1 lít trà xanh và trà đen. Hợp tác xã không làm trà thảo mộc.

Búp chè vừa hái ở La Bằng, cùng một búp làm ra nhiều nhóm trong các loại trà phổ biến
Cùng một búp chè, dừng oxy hóa sớm thành trà xanh, để oxy hóa hoàn toàn thành hồng trà.

Cửa hàng mới mở nên nhập các loại trà phổ biến nào trước?

Chúng tôi hay gặp cửa hàng mới nhập đủ mặt các loại trà phổ biến cho kệ đẹp, sau ba tháng thấy hai ba mã bán chạy, còn lại nằm im. Tiền đọng ở hàng chậm là tiền không quay vòng được để nhập lại hàng chạy. Cách an toàn hơn là hỏi ba câu trước khi đặt đơn đầu.

Khách của mình mua để làm gì? Quán nước mua trà để pha bán theo ly, cần giá vốn thấp và vị ổn định. Người mua quà cần bao bì đẹp, tên vùng rõ. Khách lẻ mua uống ở nhà thì quay lại đều, mua theo túi 100–500 g.

Mỗi tuần bán được bao nhiêu? Chưa có số thật thì ước thấp, nhập vừa đủ 4–6 tuần. Nhân viên có pha thử và giới thiệu được từng mã không? Mã nào nhân viên không nói được một câu về vị, mã đó bán chậm.

Từ ba câu đó, các loại trà phổ biến chia thành hai lớp. Lớp đầu là trà xanh và trà ướp hoa, khách Việt quen, bán ở cả ba kênh. Lớp sau là ô long, hồng trà, bạch trà: mỗi mã một ít, đủ để khách thử, rồi tăng lượng theo số bán. Trà túi lọc và trà thảo mộc để sau, khi có khách văn phòng hoặc khách hỏi đích danh.

Bảng 8 mã khởi đầu từ các loại trà phổ biến, chia theo kênh bán

Bảng dưới chọn 8 mã đại diện cho năm nhóm trong các loại trà phổ biến làm từ cây chè, đánh dấu kênh nào hợp. Giá là giá niêm yết trên website hợp tác xã.

MãNhómGiá niêm yếtQuán nướcQuà biếuKhách lẻ
Trà Bắc Truyền ThốngTrà xanh250.000đ/kgChínhKhôngCó
Trà Móc Câu Đặc BiệtTrà xanh450.000đ/kgTrà nóngCóChính
Nõn Cánh HạcTrà xanh650.000đ/kgKhôngChínhCó
Trà Xanh Sạch 6 Không La BằngTrà xanh269.000đ/túi 215 gKhôngCóChính
Trà Hoa NhàiTrà ướp hoa120.000đ/100 gChínhCóCó
Ô Long Đông Tam ĐảoÔ long269.000đ/túi 215 gCóChínhCó
Hồng Trà Núi CốcHồng trà269.000đ/túi 215 gChínhCóÍt
Bạch Trà Mẫu ĐơnBạch trà269.000đ/túi 215 gÍtChínhÍt

Quán nước: trà xanh đậm, trà nhài và một mã pha sữa

Quán bán trà đá, trà nóng, trà chanh, trà sữa không cần đủ các loại trà phổ biến, chỉ cần ba thứ: trà bắc pha bình to, trà nhài cho món thơm, hồng trà cho món sữa. Quán muốn hương cốm rõ hơn trà bắc mà giá vẫn vừa thì thay một phần bằng Trà Xanh Đặc Sản 350.000đ/kg. Chọn trà theo từng kiểu menu có ở bài các loại trà cho quán cafe.

Quà biếu: hạng nõn và các túi 215 g

Khách mua quà nhìn bao bì và tên vùng trước, vị sau. Trong các loại trà phổ biến, phần hợp quà là hạng nõn và các túi 215 g: Nõn Cánh Hạc, Ô Long, Bạch Trà, Hồng Trà. Khách cần quà cao hơn thì có Trà Đinh Ngọc (Đinh Tiên Sơn) 2.500.000đ/kg, nhưng cửa hàng mới chỉ nên giữ vài trăm gam. Hộp và set quà cho doanh nghiệp xem ở trang quà tặng trà doanh nghiệp; set quà có chiết khấu riêng theo nhóm set, không tính như trà rời.

Khách lẻ mua uống: hai mã chủ lực, một mã đổi vị

Khách lẻ quay lại theo thói quen, nên trong các loại trà phổ biến chỉ cần hai mã trà xanh vị ổn định: Móc Câu và Trà Xanh Sạch 6 Không. Thêm trà nhài hoặc ô long cho khách muốn đổi vị cuối tuần. Ai mua về uống ở nhà mà hỏi kỹ về trà ướp sen, bưởi, nhài, anh chị có thể gửi họ bài ba loại trà ướp hương phổ biến bên Thuận Trà, rồi mời ghé quầy thử.

Các túi trà khô xếp trên kệ cửa hàng, 8 mã khởi đầu từ các loại trà phổ biến
Cửa hàng mới chỉ cần 8 mã, mỗi nhóm một hai đại diện, nhập vừa đủ 4–6 tuần.

Vốn nhập ban đầu khi bày các loại trà phổ biến lên kệ

Ba bộ hàng dưới là ví dụ nhập các loại trà phổ biến cho ba kiểu cửa hàng. Vốn thực trả tính theo chiết khấu đại lý 35%, 40% và 45%. Mức nào áp cho cửa hàng nào tùy cấp đại lý, ở đây chỉ là giả định để anh chị thấy khoảng tiền.

Bộ hàngCác mã và lượngGiá niêm yếtVốn ở 35%Vốn ở 40%Vốn ở 45%
Quán nướcTrà Bắc 10 kg, Trà Hoa Nhài 20 túi 100 g, Hồng Trà 4 túi, Móc Câu 2 kg6.876.000đ4.469.400đ4.125.600đ3.781.800đ
Quà biếuNõn Cánh Hạc 3 kg, Ô Long 6 túi, Bạch Trà 4 túi, Hồng Trà 4 túi, Móc Câu 3 kg7.066.000đ4.592.900đ4.239.600đ3.886.300đ
Khách lẻMóc Câu 5 kg, Trà Xanh Sạch 6 Không 6 túi, Trà Hoa Nhài 10 túi 100 g, Trà Bắc 5 kg, Ô Long 3 túi7.121.000đ4.628.650đ4.272.600đ3.916.550đ

Cách tính một dòng để anh chị tự kiểm: bộ quán nước gồm 10 kg × 250.000đ = 2.500.000đ, 20 túi × 120.000đ = 2.400.000đ, 4 túi × 269.000đ = 1.076.000đ, 2 kg × 450.000đ = 900.000đ. Cộng lại 6.876.000đ. Ở mức chiết khấu 35%, vốn là 6.876.000 × 0,65 = 4.469.400đ.

Cửa hàng bán cả ba kênh thì không cộng dồn ba bộ, vì các loại trà phổ biến trong mỗi bộ trùng nhau nhiều. Gộp lại, giữ mã chung và giảm lượng mỗi mã. Phần vốn cho kệ, mặt bằng, dự phòng có ở bài mở cửa hàng trà khô nên chia vốn thế nào. Điều kiện từng cấp chiết khấu xem ở trang chiết khấu đại lý trà Thái Nguyên.

Vòng quay hàng của các loại trà phổ biến: bao lâu thì nhập lại

Vòng quay cho biết một năm hàng trên kệ được bán hết và nhập lại mấy lần. Với các loại trà phổ biến, cách ước nhanh là lấy 52 tuần chia cho số tuần bán hết một lô. Lô Móc Câu bán hết trong 5 tuần thì một năm quay khoảng 52 ÷ 5 ≈ 10 lần. Mã quay chậm không hẳn là mã dở, nhưng không nên nhập nhiều.

MãLượng đầu (giả định)Bán mỗi tuần (giả định)Hết lô sauĐặt lại khi còn
Trà Bắc Truyền Thống10 kg2,5 kg4 tuần3 kg
Trà Móc Câu Đặc Biệt5 kg1 kg5 tuần1,5 kg
Trà Hoa Nhài20 túi 100 g4 túi5 tuần6 túi
Trà Xanh Sạch 6 Không6 túi1,5 túi4 tuần2 túi
Nõn Cánh Hạc3 kg0,5 kg6 tuần1 kg
Ô Long Đông Tam Đảo6 túi1 túi6 tuần2 túi
Hồng Trà Núi Cốc4 túi1 túi4 tuần1 túi
Bạch Trà Mẫu Đơn4 túi0,5 túi8 tuầnHết mới đặt

Mốc “đặt lại khi còn” tính sao cho hàng mới về trước khi hết. Hợp tác xã xuất đơn dưới 100 kg trong 24 giờ, cộng thêm vài ngày xe chạy tùy tỉnh.

Mã nào dễ đọng hàng

Trong các loại trà phổ biến, nhóm dễ đọng ở cửa hàng mới là bạch trà và hạng nõn cao, vì giá cao và khách mua theo mùa quà. Trà ướp hoa không đọng nhiều tiền nhưng mất hương nếu để lâu; hạn dùng ghi trên trang sản phẩm là 12 tháng, cửa hàng nên bán trong vài tháng. Trà xanh mộc đã mở túi nên dùng hết trong 2–3 tháng, theo hướng dẫn trên trang Móc Câu.

Lịch nhập lại trong 90 ngày đầu

Tuần 1–4: chỉ ghi chép, không nhập thêm mã mới. Tuần 5–8: nhập lại các mã đã chạm mốc, giảm lượng của mã bán dưới nửa dự tính. Tuần 9–12: thêm một mã từ các loại trà phổ biến còn thiếu nếu có khách hỏi đích danh từ ba lần trở lên, ví dụ trà túi lọc cho khách văn phòng. Sau 90 ngày, anh chị có số bán thật để tính đơn quý sau.

Giới thiệu các loại trà phổ biến với khách mà không nói quá

Nhân viên mới bán các loại trà phổ biến hay mắc hai lỗi. Lỗi đầu là xếp hạng: “ô long ngon hơn trà xanh”. Các nhóm khác cách làm nên khác vị, không có thang chung. Nói theo đặc điểm có ích hơn: đậm hay nhẹ, hương cốm hay hương hoa, chát trước ngọt sau hay êm từ đầu.

Lỗi sau là nói công dụng. Khách hỏi “trà nào giảm cân”, “trà nào ngủ ngon” thì câu trả lời là chuyện sức khỏe anh chị hỏi bác sĩ, bên em chỉ nói được vị, cách pha và trà có caffeine hay không. Trà là thực phẩm thông thường; cửa hàng tự đóng gói phải theo quy định an toàn thực phẩm tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP và ghi nhãn theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP, không ghi công dụng chữa bệnh lên nhãn, kệ hay trang bán hàng.

Riêng trà thảo mộc, nhân viên cần nói rõ “loại này không phải trà từ cây chè”. Trà sen, trà nhài thì ngược lại: khách hay nghĩ là thảo mộc trong khi nền vẫn là trà xanh có caffeine.

Pha thử trà ở quầy để nhân viên giới thiệu đúng vị từng nhóm trà
Nhân viên pha thử từng mã thì mới nói được một câu đúng về vị khi khách hỏi.

Nhập các loại trà phổ biến ở hợp tác xã: chính sách và giấy tờ

Hợp tác xã Tâm Trà Việt có 90 hộ xã viên, vùng nguyên liệu 40,5 ha canh tác theo quy trình VietGAP, hai cơ sở ở Đại Từ và La Bằng. Trong bảy nhóm của các loại trà phổ biến, hợp tác xã làm sáu nhóm, trừ trà thảo mộc. Trà Móc Câu Đặc Biệt làm ở cả hai cơ sở. Vùng chè và đường lên xưởng có ở bài vùng chè Đại Từ – La Bằng.

Hàng có sẵn không cọc. Đơn dưới 100 kg xuất trong 24 giờ, từ 100 kg trong 2 ngày. Khách nhập sỉ theo kg có đơn trên 50 triệu đồng thì hợp tác xã chịu phí vận chuyển; đại lý tính theo hợp đồng. Có hóa đơn VAT. Đại lý được bảo hộ khu vực. Mua lại 70% hàng tồn chỉ áp cho trà phổ thông dạng túi, không áp cho set, hộp hay hàng nhãn riêng.

Cửa hàng muốn in hộp hoặc set có logo riêng thì in từ 200 suất, cọc 50%, chi phí in báo khi chốt đơn. Đơn doanh nghiệp, đơn trước Tết không in logo cọc 20–30%. Gia công nhãn riêng (OEM) nhận từ 20.000.000đ một đơn. Điều kiện làm đại lý ở trang đại lý trà Thái Nguyên; khách lấy theo kg không ký đại lý xem trang nhập sỉ trà.

Câu hỏi thường gặp

Có nên bày đủ bảy nhóm trong các loại trà phổ biến ngay từ đầu?

Không cần. Bảy nhóm cần bảy cách pha, bảy câu giới thiệu. Cửa hàng mới nên vững hai nhóm trà xanh và trà ướp hoa trước, các nhóm khác mỗi nhóm một mã nhỏ.

Kệ chỉ đủ chỗ cho bốn mã thì chọn mã nào?

Một trà xanh pha hằng ngày, một trà xanh hạng nõn, một trà ướp hoa và một ô long hoặc hồng trà. Bốn mã này đại diện bốn nhóm trong các loại trà phổ biến, phủ cả khách quen vị Bắc lẫn khách trẻ.

Ô long và hồng trà có cần bảo quản khác trà xanh không?

Cùng nguyên tắc như các loại trà phổ biến khác: kín, khô, tránh nắng và mùi lạ. Trang sản phẩm của hợp tác xã gợi ý có thể để ngăn mát 0–5°C. Lấy ra khỏi tủ lạnh thì để túi về nhiệt độ phòng rồi mới mở, tránh hơi nước đọng vào cánh trà.

Có lấy lẻ một hai túi để thử bán trước không?

Được. Hàng có sẵn không cọc, anh chị lấy số lượng nhỏ từng mã trong các loại trà phổ biến để thử khách, bán được thì nhập tiếp theo cấp. Muốn pha thử trước khi bỏ tiền thì xin mẫu.

Ở miền Nam, các loại trà phổ biến nào dễ bán hơn?

Khách miền Nam quen trà ướp hoa và trà pha đá, nên trà nhài và trà xanh pha lạnh thường bán tốt hơn trà mộc pha ấm nhỏ. Tuy vậy, mỗi khu một khác, số bán 4–6 tuần đầu mới là căn cứ.

Tự chia nhỏ trà kg ra túi bán lẻ cần lưu ý gì?

Túi chia phải có nhãn đủ tên hàng, khối lượng, ngày đóng gói, hạn dùng, nơi sản xuất và tên cửa hàng chịu trách nhiệm. Dùng túi có lớp chống ẩm, hàn kín, ghi ngày chia để bán lô cũ trước.

Anh chị đang chuẩn bị khai trương và muốn có bảng 8 mã từ các loại trà phổ biến tính sẵn theo khách của mình, gửi cho chúng tôi ba thông tin: kênh bán chính, số khách mỗi ngày, mức vốn dự định. Gọi hotline B2B 0368.151.678 (Zalo cùng số), chúng tôi tính giúp lượng nhập theo cấp chiết khấu. Muốn pha thử trước, anh chị xin mẫu thử vài mã trong bảng, hoặc để lại thông tin ở trang liên hệ.

Nguồn tham khảo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Thành viên TRAVINA GROUP